Vai trò của giáo dục - dào tạo trong nền kinh tế tri thức

0
  • Chưa có sản phẩm

Vai trò của giáo dục - dào tạo trong nền kinh tế tri thức

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã mang lại những thành tựu vĩ đại, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ điều khiển, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano và hơn cả là sự xuất hiện máy tính hiện đại cùng hệ thống Internet v.v…Những thành tựu ấy đã tạo điều kiện để từng bước hình thành một nền kinh tế mới: kinh tế tri thức (Knowledge Economy). Càng ngày sự phân hóa giữa các nước phát triển và chậm phát triển càng gia tăng. Tại diễn đàn kinh tế OECD năm 2001, Ban thư ký OECD đã có một báo cáo, trong đó nói rằng, những quốc gia có chính sách phát triển kinh tế tri thức đã tăng trưởng rất nhanh, còn những quốc gia khác đã tụt hậu ngày càng rõ rệt hơn. Đầu thế kỷ XX, khoảng cách thu nhập bình quân giữa nước giàu nhất so với nước nghèo nhất là 10 lần, thì đầu thế kỷ XXI, khoảng cách đó là 400 lần. Sự không cập nhật tri thức mới trong quá trình lão hóa tri thức tăng tốc, nhất là sự bất cập với công nghệ mới, công nghệ cao là yếu tố hàng đầu của sự phân hóa phát triển - kém phát triển. Khoảng 30 năm lại đây, lượng kiến thức nhân loại thu được về khoa học và công nghệ bằng tổng số kiến thức đó trong hai ngàn năm trước đó. Theo dự báo, đến năm 2020, những tri thức khoa học sẽ tăng khoảng 4 lần so với năm 2000.
Để giải quyết bài toán phát triển, Việt Nam phải tính đến yếu tố con người, năng lực sáng tạo tri thức mới, từ đó cần phải học tập và cập nhật kiến thức mới. Và từ đó khái niệm xã hội học tập ra đời
Giáo dục suốt đời và Xã hội học tập

Giáo dục suốt đời là khái niệm có nội hàm rất rộng. Theo Wikipedia, “Giáo dục suốt đời là toàn bộ các hoạt động học tập được tiến hành trong suốt cuộc đời, bao gồm học chính quy và không chính quy”. Khái niệm này gắn liền với các khái niệm về giáo dục thường, học tập liên tục, và không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp. Nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng kế hoạch phát triển chiến lược cho hệ thống giáo dục theo phương châm giáo dục suốt đời. Ở Nhật Bản, Bộ Giáo dục đã nêu: “Để xây dựng một xã hội năng động và thịnh vượng, vấn đề cốt lõi là phải tạo ra được một xã hội học tập suốt đời; trong đó, người dân có thể tự do lựa chọn cơ hội học tập trong bất kỳ thời gian nào trong cuộc đời họ, và những thành quả học tập phải được ghi nhận một cách chính đáng” (MEXT 200).

Để người dân có thể học tập suốt đời cần phải có những yếu tố cần thiết cho sự phát triển chiến lược quốc gia như: chủ trương chính sách, văn hóa học tập, tạo môi trường tiếp cận với tri thức, phương tiện thông tin, tài nguyên học tập, đảm bảo chất lượng, v.v.

Xã hội học tập với các tiêu chí cơ bản là “tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục …” (Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Nghị quyết 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005).

Nền giáo dục mà nhân loại định hướng nói trên chỉ có được khi mà trong xã hội thực hiện được phương thức giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, học tập suốt đời. Nhân loại đã từng phấn đấu để giáo dục đến với từng con người (Education for all) và cố gắng để mọi người đều thấy trách nhiệm xây dựng giáo dục (All for Education). Nhưng, ở thể kỷ này, điều đó chưa đủ. Vấn đề là ai cũng học tập, ai cũng phải có nghĩa vụ học vì một đất nước, vì một thế giới phát triển, học hỏi trong những thời gian và không gian cần thiết, không phân biệt tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn v.v…, ai cũng có thể làm trò và ai cũng có thể làm thầy để mỗi người được đi vào nhiều dạng khác nhau của tri thức, để tiếp thu những tri thức mà nhân loại sáng tạo ra, và cũng là để tự mình góp phần tạo ra những tri thức mới. Xã hội ấy - xã hội có nền giáo dục như vậy - được gọi là xã hội học tập (Learning Society).

Cấu trúc tổng quát của nền giáo dục trong xã hội học tập là một hệ thống các thiết chế giáo dục. Những thiết chế này được chia thành hai loại hình: Loại hình giáo dục chính quy và loại hình giáo dục không chính quy (Formal Education and Non-formal Education). Loại hình giáo dục chính quy hợp thành hệ thống giáo dục ban đầu (Initial Education) và hệ giáo dục tiếp tục (Continuing Education). Hệ giáo dục ban đầu gồm các loại hình giáo dục chính quy từ nhà trẻ, trường lớp mầm non hoặc mẫu giáo, trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến trường dạy nghề các cấp, trung tâm dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng và đại học. Hệ thống giáo dục không chính quy rất đa dạng về các loại hình trường lớp và các thiết chế có chức năng giáo dục như trường lớp bổ túc văn hoá, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, cơ sở nuôi dạy trẻ khuyết tật tư nhân, các lớp học nghề gắn với cơ sở sản xuất, các lớp dạy nghề tư nhân, nhà văn hoá, câu lạc bộ, bưu điện văn hoá xã v.v…

Ở nước ta, trong Luật Giáo dục năm 2005, hệ giáo dục tiếp tục được gọi là hệ giáo dục thường xuyên. Thực ra, giáo dục thường xuyên là một chính sách quốc gia, bảo đảm cho mỗi con người được học tập từ lúc lọt lòng cho đến cuối đời, chứ không phải là hệ thống giáo dục dành cho những người không học tại hệ thống giáo dục ban đầu. Mặt khác, quan niệm hệ giáo dục thường xuyên gồm những trường lớp không chính quy cũng lại không chuẩn xác. Sự “đứt khúc” giữa giáo dục ban đầu với giáo dục tiếp tục là cách thức tổ chức giáo dục không đúng, bởi đã có giáo dục thường xuyên thì giữa các loại hình giáo dục dù chính quy hay không chính quy vẫn phải bảo đảm tính liên tục, tính liên thông, tính nối tiếp… Nếu thiếu những tính chất đó thì sẽ không thể có được nguyên tắc “làm cho con người có cơ hội học tập trong bất kỳ thời gian và không gian nào”. Ngay cả khái niệm giáo dục không chính quy mà ta đang dùng cũng chưa phản ánh được sự phát triển các hệ thống giáo dục của thế giới hiện đại. Vì vậy, trước khi đi sâu vào những vấn đề cụ thể chúng ta phải thống nhất với nhau về một số khái niệm.

Hệ thống giáo dục ban đầu gồm các trường lớp được tổ chức với phương thức chính quy nên khi nói đến giáo dục ban đầu, trong xã hội thường dùng thuật ngữ giáo dục chính quy hay giáo dục trong nhà trường (School Education). Giáo dục chính quy là hệ giáo dục có thể chế và cấu trúc chặt chẽ, có những quy định mang tính pháp chế về tuyển sinh, thi tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ, nội dung chương trình và sách giáo khoa, phương pháp dạy học, thiết bị học tập, biên chế năm học, thời gian cho mỗi tiết học, chế độ nghỉ v.v…

Giáo dục không chính quy được hiểu là hệ thống giáo dục ngoài nhà trường (Out of Schooling Education) có cấu trúc đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo, theo cấp lớp hoặc không theo cấp lớp, có những phương thức sát gần với giáo dục chính quy như học theo chương trình gần giống như của hệ thống giáo dục chính quy nhưng quy định về thời khoá biểu, niên chế năm học, chế độ nghỉ hè có thể khác hẳn.

Những phương thức học không chính quy để được cấp văn bằng ở nước ta như phương thức tổ chức học ở các trường vừa học vừa làm trước đây (theo đúng chương trình của hệ chính quy, nhưng sách giáo khoa có thể riêng), có thêm những hoạt động khác như lao động sản xuất, dạy nghề…, được thế giới gọi là giáo dục cận chính quy (Quasiformal Education). Phương thức học tập theo chương trình chính quy, bỏ bớt một số môn học, soạn sách giáo khoa riêng, vẫn được cấp văn bằng (tương đương với văn bằng của hệ chính quy) như học trường lớp bổ túc văn hoá được gọi là giáo dục bán chính quycần gì học nấy”, không có chương trình cố định, không có sách giáo khoa, không cấp văn bằng, chứng chỉ. Đó là giáo dục phi chính quy (Informal Education). (Paraformal Education). Ngoài ra, còn có những thiết chế giáo dục thực hiện phương thức “

Với xu thế hội nhập hiện nay vai trò của tri thức ngày càng trở nên quan trọng, nó trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế,cũng vì lẽ đó mà ra đời thuật ngữ “kinh tế tri thức”.Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) “ kinh tế tri thức là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất phân phối và sử dụng tri thức thông tin”. Tri thức có vai trò to lớn đối với việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm …. Phát triển kinh tế tri thức sẽ tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm bớt nặng nhọc trong lao động.Vì vậy, hiện nay, các nước đều dành sự quan tâm hàng đầu cho việc xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về tri thức và phát triển đội ngũ trí thức. Ở đâu có nhiều tri thức hơn, ở đó có nền kinh tế phát triển hơn; những công ty, đơn vị nào có nhiều tri thức sẽ phát triển mạnh hơn; những cá nhân nào có tri thức, có trình độ sẽ nhận được việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn. Phát triển kinh tế tri thức là xu thế tất yếu của mọi nền kinh tế, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã hội. Một trong những đặc điểm nổi bật của thế giới hiện nay đó là cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão đã tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình toàn cầu hoá có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chiến luợc phát triển kinh tế tri thức theo những cách thức riêng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước. Các nước phát triển tập hợp thu hút lao động trí tuệ, thành tựu khoa học công nghệ ở nhiều nước, nghiên cứu sâu vào lĩnh vực năng lượng mới, vật liệu mới, hoá sinh học, khám phá vũ trụ … để phát triển nền kinh tế. Các nước đang phát triển chọn hướng đi tắt, tạo động lực phát triển nhanh nhằm rút ngắn khoảng cách đối với các nước phát triển.

Đối với nền kinh tế dựa vào tri thức thì phát triển xã hội học tập (XHHT) đang là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia .Với một quốc gia có điểm xuất phát thấp như Việt Nam, chúng ta chỉ có một lối đi, một câu trả lời: Phải xây dựng được một nền giáo dục rèn luyện nên những con người Việt Nam kiên cường, giàu trí tuệ và giầu nghị lực sáng tạo mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước thời hội nhập ngày nay đòi hỏi.

Vai trò của xã hội học tập và kinh tế tri thức

XHHT thúc đẩy KTTT phát triển .sở dĩ như vậy là vì xây dựng XHHT  nhằm trực tiếp tác đọng đến việc nâng cao trí tuệ sự hiểu biết và vận dụng những trí thức khoa học vào sản xuất . trong thời đại ngày nay đẩy mạnh xây dựng  XHHT  là con đường tốt nhất để con người tiếp cận kip thời những thông tin mới nhất cập nhật làm giàu thêm nguồn tri thức của mình . chỉ có thông qua giáo dục dào tạo (GDĐT) mới tạo dựng, động viên và phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực mà trước hết là nguồn lực của con người cho sự phát triển kinh tế xã hội không những thế GDĐT còn là động lực cho sự phát triển của KTTT,GDĐT giúp người lao động nâng cao trình độ học vấn ứng dụng và sáng tạo khcn tốt hơn .chính vì vậy GDĐT là yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển kinh tế xã hội bền vững. đảm bảo sự phát triển kinh tế xã hội bền vững cũng chính là động lực cho sự phát triển KTTT. Trong KTTT, tri thức là yếu tố chủ yếu của sản xuất, so với các yếu tố khác tri thức khi tham gia vào quá trình sản xuất không những không bị hao mòn cạn kiệt mà còn luôn được nâng cao.khi chuyển giao và chia sẻ tri thức cho người khác người sở hữu tri thức vẫn giữ nguyên tri thức của mình.theo đó nguồn vốn tri thức được tăng lên gấp bội và sử dụng có hiệu quả là nhờ GDĐT.với tư cách là động lực cho sự phát triển, GDĐT chuẩn bị cho con người phát triển cả về trí tuệ tay nghề kĩ năng. Hơn nữa GDĐT cong giúp chúng ta phát huy nội lực trình độ trí tuệ dân tộc. Hàm lượng trí tuệ trong lao động do GDĐT mang lại là cái làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt trong sản xuất, nguồn lực duy nhất tạo ra lợi thế so sánh dài hạn .tri thức là xương cốt của nền kinh tế hiện đại,xong tri thức chỉ được thực hiện thông qua kĩ năng của cá nhân .do vậy GDĐT là yếu tó đầu vào của sản xuất ,tầm nhìn xa cho đất nước cho dân tộc là giáo dục ,đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển.

Tuy nhiên KTTT cũng có tác động tích cực tới GDĐT. Nền KTTT đòi hỏi mỗi người phải luôn bổ sung tri thức mới. Trong thời đại thông tin KTTT tạo ra những biến đổi rất sâu sắc và nhanh chóng cho nên GDĐT phải nhằm mục tiêu phát triển toàn diện con người một cách bền vững.nền KTTT đòi hỏi và tạo điều kiện cho con người phát triển,coi trọng cá tính và bản lĩnh,phát huy tiềm năng cực kì phong phú của con người.

Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vùa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học. Tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức.

Kết luận

Chúng ta đã có Nghị quyết (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và X của Đảng) về xây dựng xã hội học tập và Chính Phủ đã ban hành Quyết định 112/2005/QĐ-TTg về kế hoạch và chỉ tiêu xây dựng xã hội học tập đến năm 2010. Tại Đại hội X, trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có sự khẳng định phải chuyển mô hình giáo dục hiện hành sang mô hình giáo dục mở- mô hình xã hội học tập. Để chuyển một mô hình (mà nhiều người hiểu rằng, phải thay đổi cơ cấu hệ thống, chương trình và sách giáo khoa, phương thức quản lý… theo những mục tiêu giáo dục mới) cần đến một cuộc cải cách giáo dục. Nhiều người dân đã đề đạt với Nhà nước nguyện vọng này bởi mô hình giáo dục hiện nay đã không còn khả năng thích ứng với những thay đổi lớn lao của đất nước và của thế giới để thích ứng với nền kinh tế tri thức trong thời kỳ mới.

Do thời gian, trình độ và kinh nghiệm có hạn, nhóm học viên thực hiện bài làm chưa được hoàn chỉnh, kính mong Quý thầy chỉ bảo để nhóm có thêm kinh nghiệm làm những đề tài khác tốt hơn. Nhóm trân trọng cảm ơn thầy!

Tài liệu tham khảo

  1. Xã hội học tập, GS. TS Phạm Tất Dong
  2. Vai trò của giáo dục mở và từ xa trong quá trình xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam, Trần Đức Vượng
  3. http://www.vnecon.vn/showthread.php?t=22310&page=1&s=80ea90a8fd1224e049ef5a1fe9931f26#ixzz29zdqx1Du

Nguyễn Đình Phương

Bài viết khác

Hỗ trợ trực tuyến
Lượt truy cập
  • Hôm nay: 76
  • Tổng lượt truy cập: 83,438
Facebook của chúng tôi
Tag Cloud
Đang cập nhật